Báo cáo tham luận của GS.TSKH Trần Văn Nhung tại Hội nghị khoa học năm 2015 Trường Đại học Thăng Long

          Ngày 6/12/2015 Trường Đại học Thăng Long đã vinh dự đón tiếp sự hiện diện của GS.TSKH Trần Văn Nhung – Tổng thư ký Hội đồng Chức danh Giáo sư Nhà nước, nguyên Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đến tham dự Hội nghị khoa học năm 2015. Tại hội nghị, GS Trần Văn Nhung đã có báo cáo tham luận quan trọng. Báo cáo tham luận của GS Trần Văn Nhung không chỉ thuần túy có ý nghĩa khoa học mà còn thể hiện mối thiện cảm tốt đẹp với Trường Đại học Thăng Long – cơ sở đào tạo bậc đại học ngoài công lập đầu tiên tại Việt Nam. Được sự đồng ý của GS Trần Văn Nhung, Ban biên tập xin trân trọng giới thiệu toàn văn báo cáo khoa học của GS tại Hội nghị khoa học năm 2015 Trường Đại học Thăng Long.

BÁO CÁO TẠI HỘI NGHỊ KHOA HỌC 2015

 CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG

TRẦN VĂN NHUNG

(Hà Nội, Chủ Nhật - 6/12/2015)

TVN

Kính thưa:

           NGND GS TSKH Hoàng Xuân Sính, Chủ tịch HĐQT 

           TS Phan Huy Phú, Hiệu trưởng,

           GS TSKH Hà Huy Khoái và Đoàn Chủ tịch Hội nghị,

           Các vị khách quý, các GS và các thầy cô giáo!

          Xin cám ơn NGND GS TSKH Hoàng Xuân Sính và Trường ĐH Thăng Long về lời mời tôi tham dự Hội nghị Khoa học năm 2015 của Trường ta! Đây là lần đầu tiên tôi được đến thăm Trường, tuy đã được gặp, nói chuyện với GS Hoàng Xuân Sính, với các vị lãnh đạo nhà trường nhiều lần và luôn luôn ủng hộ Trường.

          Bản báo cáo của tôi hôm nay gồm ba phần:

          Phần 1: ĐH Thăng Long

          Phần 2: Quốc tế hóa giáo dục

          Phần 3: Tứ diện giáo dục

          (có tham khảo các tài liệu [1, 2, 3] và internet).

 

Phần 1: ĐH Thăng Long

          ▪ Tất cả chúng ta đều rất vui mừng với mô hình và thành tích mà ĐH Thăng Long (ĐHTL) đã đạt được trong 27 năm qua (1988-2015), theo chủ trương xã hội hóa giáo dục của Đảng và Nhà nước. ĐHTL là cơ sở giáo dục đại học ngoài công lập đầu tiên ở Việt Nam. Trường luôn kiên trì bảo đảm chất lượng, không chạy theo số lượng, “không vì lợi nhuận”; sinh viên không được"chạy điểm", nếu thi chưa đạt thì học lại và thi lại cho đến khi đạt; nhiều cơ sở muốn nhận cử nhân ĐHTL hơn cả từ một số ĐH công lập.

          ▪ Đến tham dự Hội nghị hôm nay tại Trường, tôi rất vui mừng được gặp lại nhiều thầy cô, đồng nghiệp, bè bạn, sinh viên cũ của mình, trong đó có nhiều nhà toán học. Đó là: TS Phan Huy Phú (Hiệu trưởng), GS Đoàn Quỳnh, GS Phạm Huy Dũng, GS Hà Huy Khoái, GS Trần Vũ Thiệu, PGS Đỗ Văn Lưu, TS Hồ Quang Minh, … Tôi xin hoan nghênh GS Hoàng Xuân Sính và lãnh đạo Nhà trường đã mời và tập hợp được đông đảo các nhà giáo, nhà khoa học, nhà quản lý, …, có uy tín cao và giàu kinh nghiệm về góp phần xây dựng và phát triển ĐHTL.

          ▪ Ở Việt Nam: Theo số liệu năm 2014-15 của Bộ GD-ĐT, cả nước có 219 ĐH, trong đó công lập 159 (chiếm 72,61%, với 87,53% tổng số sinh viên), có 60 ĐH ngoài công lập (chiếm 27,39%, với 12,47% tổng số sinh viên).

          ▪ Ở Hoa Kỳ: Trong Topten ĐH thì 9 là tư thục, trường đứng đầu là Harvard (được thành lập năm 1636), chỉ có một công lập là University of California at Berkeley. Trong Topten ĐH của thế giới thì phần nhiều là tư thục và thường có 7 của Mỹ, 2 của Anh (Oxford, Cambridge) và 1 của Pháp ( ĐHBK Paris).

          ▪ Sự đa dạng của nguồn nhân lực về trình độ và nghề nghiệp, sự đa dạng của các trường đại học công và tư là một yêu cầu, một tất yếu khách quan và tự nhiên. Sự tồn tại và phát triển của các cơ sở giáo dục đại học, nhất là các cơ sở ngoài công lập, tuân theo nguyên tắc triết học, đã được Georg Wilhelm Friedrich Hegel (1770 - 1831), nhà triết học duy tâm khách quan, đại biểu xuất sắc của triết học cổ điển Đức, khẳng định: “Cái hợp lý thì tồn tại, cái tồn tại phải hợp lý”, “Ai nhìn nhận thế giới một cách hợp lý thì thế giới cũng nhìn nhận người đó một cách hợp lý”.

          ▪ Yêu cầu đa dạng đối với nguồn nhân lực cũng giống như đối với văn hóa vàhệ sinh học. *Đa dạng sinh học* bảo đảm cho các hệ sinh thái tồn tại và phát triển một cách hài hòa, hợp lý và bền vững nhất.

          (Tiếp theo là một số ảnh về GS A. Grothendieck sang thăm và giảng bài tại Việt Nam (Đại Từ, Thái Nguyên) năm 1967 trong chiến tranh chống Mỹ cứu nước, ảnh về Trường ĐHTL, GS Hoàng Xuân Sính, GS G Laumon, GS NB Châu và GS Lê Thị Thanh Nhàn, người trở thành nữ GS Toán học thứ hai năm 2015, sau GS HX Sính 35 năm.)

          NGND GS TSKH Hoàng Xuân Sính 

          ▪ Chị mồ côi mẹ năm lên 8, tôi cũng vậy… Tôi hiểu mồ côi mẹ cực khổ như thế nào.

          ▪ Từ Paris hoa lệ, sau khi đỗ Thạc sĩ Toán học, chị HX Sính về Hà Nội làm CBGD của Trường ĐH Sư phạm Hà Nội, mà không về Sài Gòn. Trong thời gian đó cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước đang diễn ra ác liệt trên cả hai miền đất nước. Tình cảm của Chị đối với Tổ quốc làm tôi nhớ lại câu nói của L Paster (1822-1895): “Khoa học không có tổ quốc, nhưng nhà khoa học phải có một Tổ quốc”.

          ▪ Chị HX Sính bảo vệ luận án TSKH tại Paris dưới sự hướng dẫn của GS A. Grothendieck (người Pháp, Giải thưởng Fields 1966), nhà toán học vĩ đại của thế giới trong thế kỷ XX. Năm 1967 GS Grothendieck đã sang thăm và giảng bài tại khu sơ tán Đại Từ, Thái Nguyên của Trường ĐH Tổng hợp Hà Nội. Các GS HXSính, ĐQuỳnh, PĐChính và cả Bộ trưởng GS TQBửu đã dịch các bài giảng về đại số đồng điều của GS Grothendieck. GS NB Châu (Giải thưởng Fields năm 2010) cũng là một trong các hậu duệ của GS Grothendieck (xem sơ đồ gia phả Giải thưởng Fields). Ngành Toán rất “hiếm muộn con gái”: Chị HX Sính được phong GS năm 1980, mãi 35 năm sau, đến năm 2015, mới có nữ GS Toán học thứ hai, TS LTT Nhàn của ĐH Thái Nguyên.

TVN01

 Nguồn: Ngô Việt Trung, Vũ Công Lập và Phùng Hồ Hải: “Duyên số với giải Fields”, Vietsciences, 22/08/2010.

 TVN02

NGND GS TSKH Hoàng Xuân Sính tại một lớp học toán năm 1988 của Trường ĐHTL (Nguồn: Internet)

TVN03

GS. A Grothendieck, GS HX Sính và GS LTT Nhàn (Nguồn: Internet)

TVN04

GS G Laumon và GS NB Châu (Nguồn: Internet)

          ▪ GS HX Sính làm Trưởng đoàn Olympic Toán học Việt Nam tham dự IMO 1982 tại Budapest (Hungary). Năm đó tôi đang làm NCS tại đây. Việt Nam có đóng góp một đề thi về hình học do PGS TS VN Cương đề xuất. Ban đầu nhiều nước đề nghị loại bài toán hình học này ra khỏi danh sách 6 bài toán được lựa chọn cho hai ngày thi vì mặc dù nó rất hay nhưng khó quá. Rất may, Trưởng Ban Tổ chức và Ban Đề thi người Hungary, GS Toán họcViện sĩ A Rényi quyết định để lại bài này vì “very nice problem!”(bài toán quá hay!) Trong Hội nghị Khoa học hôm nay tại đây tôi rất vui mừng thấy có ba GS đang làm việc và giảng dạy cho Trường ĐHTL mà cả ba đã từng nhiều năm là Trưởng đoàn IMO Việt Nam, đó là GS HX Sính, GS Đoàn Quỳnh và GS HH Khoái.

          ▪ Nhà báo Hàm Châu viết: “Hoàng Xuân Sính là người phụ nữ nước ngoài đầu tiên đến Paris bảo vệ thành công luận án tiến sĩ quốc gia về toán học.” Tờ tạp chí hằng tháng Phụ nữ Liên Xô xuất bản tại Moscow, số tháng 8/1975, trong chuyên đề về phụ nữ Việt Nam, đã dành nửa trang để giới thiệu nhà nữ toán học Hoàng Xuân Sính. Trả lời phỏng vấn của một nhà báo Liên Xô, chị nói lên niềm mơ ước của mình: "Tôi muốn góp phần đào tạo một lớp các nhà toán học trẻ ở đất nước chúng tôi. Hiện nay, nhiều nghiên cứu sinh Việt Nam còn phải ra nước ngoài viết luận án tiến sĩ. Chúng tôi muốn xây dựng nhiều chuyên ngành toán học ở trình độ cao, ngay trên đất nước mình".

          ▪ Chúng tôi mong muốn và tin tưởng ở ĐH Thăng Long 

          ▪ Tiếp tục phát triển bền vững để nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học và phục vụ xã hội, để trong tương lai trở thành một trong các đại học dẫn đầu ở Việt Nam; sớm có Hội đồng Chức danh giáo sư cơ sở theo tiêu chí của Nhà nước và có một tạp chí khoa học riêng, ví dụ: Thang Long Journal of Science(s).

          ▪ Cho đến nay Việt Nam chưa có tạp chí khoa học nào nằm trong ISI, mới chỉ có 3 tạp chí nằm trong Scopus: Acta Mathematica Vietnamica (của Viện Toán học-Viện HLKHCNVN), Vietnam Journal of Mathematics (của Hội Toán học VN và Viện HLKHCNVN) và Advances in Natural Sciences (của Viện HLKHCNVN); các tạp chí quốc tế bằng tiếng Anh mới: Vietnam Journal of Medicine and Pharmacy (VJMP) của Bộ Y tế, từ năm 2013; Vietnam Journal of Computer Science (VJCS) của Trường ĐH Nguyễn Tất Thành phối hợp xuất bản cùng với Spinger từ 2013; …

 

Phần 2: Quốc tế hóa giáo dục

2.1. Để triển khai Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, chúng tôi cho rằng cách tốt nhất, dễ làm nhất, nhanh nhất và hiệu quả nhất là quốc tế hóa căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo từ tư duy đến hành động, nhưng luôn giữ cốt cách Việt theo đường lối của Đảng và Nhà nước ta. Chúng tôi rút ra bài học này từ kinh nghiệm của các “con rồng mới” như Singapore, Hàn Quốc, Đài Loan (Trung Quốc), …Sở dĩ có được tốc độ phát triển thần kỳ vì họ thực sự xem nguồn nhân lực là nền tảng, là “quốc sách hàng đầu” và xây dựng nguồn nhân lực theo hướng quốc tế hóa giáo dục.

          ▪ "Quốc tế hóa giáo dục là xu hướng mang tính toàn cầu, nhằm chia sẻ những kinh nghiệm tốt nhất giữa các quốc gia về mọi lĩnh vực trong giáo dục, từ đào tạo tới nghiên cứu, từ phương pháp dạy học tới biên soạn giáo trình, từ việc sử dụng công nghệ trong giáo dục tới các nguồn tài liệu học tập, từ các vấn đề về giáo viên tới các vấn đề quản lý, kiểm định và đánh giá chất lượng. Toàn cầu hóa giáo dục nhằm mục đích cải tổ quá trình học tập cho tất cả mọi người và xây dựng những nguyên tắc, giá trị chung giữa các nền giáo dục trong bối cảnh thế giới đang tiến tới nền kinh tế trí thức toàn cầu. (Trích theo GS Mai Trọng Nhuận.)

          ▪ Trong bài thơ “Thú nhàn” của Nhà thơ Cao Bá Quát (1808-1855) có câu: “Kho trời chung mà vô tận của mình riêng”. Tôi xin mạo muội diễn giải ý nôm na của câu thơ trong thời hiện đại như sau: Một con người thông minh giàu bản ngã có thể khai thác nhiều vô tận kho tàng trí tuệ của nhân loại, nhất là trong thời đại IT/ICT ngày nay. Nguồn thông tin, dữ liệu, trí tuệ chung của cả loài người nằm trong kho chung của cả thế giới. Ai khôn ngoan biết sử dụng Google, internet thì người đó “giàu có” vô hạn. Vì “thông tin là quyền lực” (“information is power”).

          ▪ Khi tra từ điển Anh ngữ ta thấy từ University (Đại học, Latin: Universitas) có từ gốc là Universe, trong tiếng Việt có nghĩa là: Vạn vật, thế giới, vũ trụ. Như vậy, theo một hướng thiển nghĩ của chúng tôi, đã dùng chữ University thì phải gắn rất chặt với Quốc tế hóa giáo dục Quyền tự chủ đại học.

 

2.2. Hồ Chí Minh, UNESCO và triết lý giáo dục của thế giới trong thế kỷ XXI

          Năm 1996, dựa trên Báo cáo của Hội đồng Delors, UNESCO đã khuyến nghị giáo dục toàn thế giới trong thế kỷ XXI được xây trên bốn trụ cột, đó là “học để biết, học để làm việc, học để chung sống với nhau và học để làm người” (Learning to know, Learning to work, Learning to live together and Learning to be). Cả nhân loại đều thừa nhận chân lý và triết lý giáo dục này.

          Tuy nhiên, nếu để ý chúng ta sẽ thấy về cơ bản, tư tưởng, chân lý và triết lý giáo dục này đã được Bác Hồ viết ra ngay từ tháng 9 năm 1949 trên trang đầu của cuốn sổ vàng khi Người đến thăm Trường Nguyễn Ái Quốc Trung ương, tiền thân của Học viện Chính trị Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh ngày nay: “Học để làm việc, làm người, làm cán bộ. Học để phụng sự Đoàn thể, giai cấp và nhân dân, Tổ quốc và nhân loại. Muốn đạt mục đích, thì phải cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư.”

          ▪ Ngày 11/7/2014 tôi đã gửi thư cho Bà Irina Bokova, Tổng Giám đốc UNESCO (Paris, Pháp) về mối liên hệ giữa triết lý giáo dục Hồ Chí Minh và UNESCO trong thế kỷ XXI; có đồng kính gửi: Bà Katherine Müller-Marin, Trưởng Đại diện UNESCO tại Việt Nam và Ông Nguyễn Thanh Sơn, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao kiêm Chủ tịch Ủy ban quốc gia UNESCO Việt Nam. Bức thư của tôi đã được Ông Qian Tang, Trợ lý về Giáo dục của Tổng Giám đốc UNESCO, trả lời ngày 30/9/2014. Một phần nội dung như sau:

          “Kính thưa Giáo sư Trần Văn Nhung,

          Thay mặt Tổng Giám đốc, tôi xin cảm ơn Ông về bức thư đề ngày 11/7/2014, trong đó Ông đã cung cấp bút tích để minh chứng đóng góp và cống hiến quan trọng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tư tưởng và tầm nhìn giáo dục. Quả thực, cách thức nhìn nhận của Chủ tịch Hồ Chí Minh rất gần gũi với bốn trụ cột giáo dục được đề xuất trong Báo cáo Delors năm 1996 của UNESCO dưới nhan đề “Học tập: Một kho báu tiềm ẩn”. UNESCO đánh giá cao sự cố gắng của các ông khi dịch và truyền bá Báo cáo Delors ở Việt nam. Chúng tôi đặc biệt cảm ơn Ông đã góp phần tiếp tục làm giàu lý luận giáo dục thế giới bằng minh chứng tầm nhìn giáo dục rất nhân văn của Chủ tịch Hồ Chí Minh. …”

          Sau khi nhận được thư trả lời của UNESCO Paris, tôi cũng đã nhận được thư trả lời của Bà Katherine Müller-Marin, Trưởng Đại diện UNESCO tại Việt Nam, và thư hoan nghênh của của Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh, trong đó có những câu:

          “Tôi hoàn toàn chia sẻ đối với phát hiện của Giáo sư, theo đó đã có sự tương đồng giữa triết lý giáo dục của Chủ tịch Hồ Chí Minh với quan điểm của Tổ chức UNESCO về giáo dục được nêu trong Báo cáo Delors công bố năm 1996. Tư tưởng của Hồ Chí Minh thực sự là Di sản quý báu, cần tiếp tục được giới thiệu rộng rãi đối với bạn bè quốc tế.Trong thời gian tới, tôi mong Giáo sư tiếp tục chia sẻ những nghiên cứu đóng góp của Giáo sư trong lĩnh vực giáo dục. Tôi sẽ chỉ đạo Vụ Văn hóa Đối ngoại và UNESCO, Bộ ngoại giao, với tư cách là Ban thư ký Ủy ban Quốc gia UNESCO Việt Nam, cũng như Phái đoàn Thường trực Việt Nam bên cạnh Tổ chức UNESCO, phối hợp chặt chẽ với Tiểu ban Giáo dục trong Ủy ban Quốc gia UNESCO Việt Nam, để giới thiệu một cách rộng rãi hơn tới tổ chức UNESCO và các quốc gia thành viên triết lý giáo dục của Chủ tịch Hồ Chí Minh.”

 

2.3. Thư gửi Bộ Chính trị  

          Ngày 19 tháng 5 năm 2015, tôi đã gửi Bộ Chính trị và Ban Bí thư bức tâm thư về việc cần có Chỉ thị/Nghị quyết của Bộ Chính trị như một quốc sách để tăng cường việc dạy, học và sử dụng tiếng Anh ở Việt Nam, tương tự như Chỉ thị 58 năm 2000 của Bộ Chính trị về việc phát triển CNTT. Bức thư này của tôi đã được PV Quý Hiên trích đăng trên Báo Thanh Niên Online ngày 22/5/2015.

          Thực ra nội dung bức thư tôi viết cũng không có gì mới, vì trong nước và cả thế giới đều đã nhận thức sâu sắc được tầm quan trọng hàng đầu của tiếng Anh và CNTT. Tôi trân trọng gửi bức thư này đến Bộ Chính trị và Ban Bí thư liên quan đến tiếng Anh, vì ngay từ năm 2000 Bộ Chính trị đã ra Chỉ thị 58, và nhờ vậy CNTT ở nước ta đã có những bước tiến đáng mừng. Vì vậy, tôi mong muốn và chờ đợi điều tốt đẹp tương tự sẽ đến với tiếng Anh.

 

Phần 3: Hình chóp tứ diện giáo dục

          Tóm tắt: Lâu nay chúng ta đều đã biết rằng: Ba yếu tố gia đình (family), nhà trường (school) và cộng đồng/xã hội (community/society) đóng vai trò quyết định cả quá trình hình thành và phát triển suốt cuộc đời của mỗi con người. Ba yếu tố này tạo thành ba cạnh của một tam giác với độ dài tương ứng là F, S, C (xem Hình 1) mà ta tạm gọi là tam giác giáo dục. Cần phải nói thêm rằng, các khái niệm gia đình, nhà trường và xã hội ngày nay cũng đã mang thêm nội hàm, ý nghĩa mới, rộng lớn hơn, sâu sắc hơn, hiện đại hơn, vì sự giao thoa của các nền văn hóa, vì ảnh hưởng to lớn của công nghệ thông tin và của quá trình toàn cầu hóa.

          Chúng tôi cho rằng một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của giáo dục là xây dựng được mối quan hệ hữu cơ giữa gia đình, nhà trường, cộng đồng/xã hội và việc tự học để đào tạo ra một con người, một công dân. Vì vậy, ở đây chúng tôi thử dùng khái niệm hình chóp tam giác trong hình học sơ cấp để minh họa cho mối liên hệ này, trong đó nhấn mạnh yếu tố thứ tư, đó là tự học. Bốn yếu tố này tạo thành bốn đỉnh của một khối tứ diện hoặc một hình chóp đáy tam giác trong không gian ba chiều. Thực ra, cả bốn yếu tố, vai trò và quan hệ giữa chúng trong quá trình giáo dục, đào tạo và hình thành một con người, một công dân, đã được nói đến và nghiên cứu nhiều từ xưa cho đến nay ở trong và ngoài nước. Cái mới ở đây có chăng chỉ là sự minh họa sơ đồ quan hệ bằng hình học sơ cấp, cụ thể là bằng hình ảnh “hình chóp tam giác giáo dục”.

  TVN05

TVN06

Kết luận:

Gia đình + Nhà trường + Cộng đồng + Tự học = Con người.

Có thể xem toàn văn bài “Hình chóp tứ diện giáo dục” ở:

1. HỌC THẾ NÀO, ngày 03/07/2014 và VietNamNet ngày 18/6/2014.

2. VNU Journal of Science: Education Research, Vol.30, No. 4 (2014) 1-6.

 ----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

Robert M May và đa dạng sinh học:

          Trong bài báo của mình trên tạp chí Nature 238 (1972), 413-414, Robert M May đã dùng toán học chứng minh một Giả thuyết (Conjecture) về sự phát triển ổn định/bền vững của các hệ sinh thái: “Any ecological systems which are more complex in some sense then they are more stable in some sense” (Các hệ sinh thái càng đa dạng càng ổn định). Ý tưởng sinh học của R M May thật tuyệt vời khi Ông dùng toán học để mô hình hóa Giả thuyết, nhưng rồi Ông lại mắc sai lầm khi dùng toán học để chứng minh. Có thể vì Ông không phải là một nhà toán học chuyên nghiệp mà là một nhà sinh thái và vật lý lý thuyết. Sau đó hai nhà toán học Mỹ J E Cohen và C M Newman đã sửa lại chứng minh của R M May trong một bài báo dài của họ được đăng trên Ann. Prob. 12(1984), pp 283-310. Nhưng dù thế nào tôi vẫn rất kính phục R May, cha đẻ của một ý tưởng lớn, dù chứng minh sai, dù chưa chứng minh được bằng toán học sự đúng đắn và chính xác của Giả thuyết, nhưng Ông linh cảm được một cách sinh học và cả toán học. Thế mới càng thấm thía câu nói của A Einstein: “Trí tưởng tượng quan trọng hơn cả kiến thức” (Imagination is more important than knowledge). Hai nhà toán học Mỹ Cohen và Newman cũng có góp công lớn và đáng khâm phục. Tuy nhiên tôi vẫn muốn phân biệt: Để có được một phát minh thì ý tưởng quan trọng hơn kỹ thuật hoàn thiện.

          Robert M. May được sinh ra ở Sydney (Australia) năm 1936 rồi trở thành GS ở Australia, ở Mỹ (ĐH Princeton) và ở Vương Quốc Anh. Ông đã được bầu giữ chức Chủ tịch Hội Hoàng gia Anh (President of the Royal Society) trong nhiệm kỳ 5 năm 2000-2005 và là Cố vấn tối cao của Chính phủ Anh. Hội Hoàng gia Anh được thành lập từ năm 1660. Tôi may mắn được tham dự một hội nghị quốc tế về Toán Sinh thái được tổ chức tại Trung tâm Quốc tế Vật lý lý thuyết Abdus Salam ở Trieste (Italy) đầu những năm 1990 và tại đây tôi được nghe GS R M May đọc báo cáo mời. Trong giờ giải lao, tôi đã tìm để nói chuyện riêng với Ông: Cả thế giới đều thấy những mô hình và bài toán sinh thái mà Ông đang nghiên cứu có nhiều ứng dụng và đóng góp rất quan trọng cho lĩnh vực đa dạng sinh học và bảo vệ môi trường. Nhóm nghiên cứu toán sinh của chúng tôi tại Trường ĐH Tổng hợp Hà Nội muốn xin ý kiến nhận định của GS về những kết quả mới đạt được và phương hướng tiếp tục. Ngoài ra, sau nhiều năm bị chiến tranh tàn phá khốc liệt, Việt Nam chúng tôi đang gặp rất nhiều khó khăn trong vấn đề này. Hiện nay GS đang làm việc tại ĐH Princeton, một trong số Topten ĐH của Hoa Kỳ. Chúng tôi mong rằng GS ứng dụng một phần nghiên cứu khoa học của mình và vận động Chính phủ Mỹ góp phần cùng Việt Nam giải quyết vấn nạn Dioxin. GS R M May lắng nghe tôi, mỉm cười và trả lời cầm chừng. Ý rằng các công ty và các tổ chức quần chúng của Mỹ cũng đã quan tâm ủng hộ Việt Nam trong việc này, nhưng trách nhiệm chủ yếu là của nhà cầm quyền nước Mỹ. Tôi cũng hiểu và tiếp nhận trả lời của GS May, vì khi đó mới đầu những năm 1990, phải 5 năm sau giữa hai nước mới có quan hệ ngoại giao.

Trần Văn Nhung

Tài liệu tham khảo:

[1] Trần Văn Nhung: “Về Giáo dục và Đào tạo: Đôi điều ghi lại”, NXBGDVN, Hà Nội – 2011 (578 trang).

[2] Trần Văn Nhung: “Sộp thành nhà giáo”, NXBGDVN, sẽ in đầu năm 2016.

[3] Facebook “Nhung Trần Văn” (trong phần Ghi chú/Notes).



Video nên xem

Bản đồ

Thông tin liên hệ

Đường Nghiêm Xuân Yêm - Đại Kim - Hoàng Mai - Hà Nội
(84-4) 38 58 73 46 
(84-4) 35 63 67 75 
This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.